Ý tưởng này là của tao!

Image

 

Người làm trong ngành sáng tạo được trả tiền để suy nghĩ ra ý tưởng và thực hiện nó.
Suy nghĩ và thực hiện.
Hai vế, chứ không phải một.
Nghĩ, và làm.
Có những người sẽ giỏi suy nghĩ hơn.
Cũng có những người giỏi thực hiện hơn.
Nhưng cũng có rất nhiều người chỉ có thể/hoặc chỉ muốn làm được một thứ.
Họ chỉ có thể nghĩ được, nhưng làm không được.
Hoặc chỉ có thể làm theo ý của người khác, chứ không tự nghĩ được.
Bản thân một ý tưởng giống như một cơn gió, nếu nói theo lối mơ mộng.
Còn nếu nói theo lối phồn thực, ý tưởng chẳng khác nào một phát rắm.
Ý tưởng giống như một con ma chẳng ai thấy, nên chẳng ai sợ.
Trừ khi con ma ấy chui vào cái áo dài trắng, bay lòng vòng trong đêm.
Người có ý tưởng mà không thực hiện nó
Cũng giống như một người dành suốt cả đời mình để nói “Giá như…”
Người có rất nhiều chiêu trò, kỹ thuật, kỹ xảo để hiện thực hóa một ý tưởng, nhưng không biết dùng những chiêu trò ấy vào việc gì
Cũng giống như một chàng tiền đạo vô kỷ luật, cầm bóng rê từ đầu sân đến cuối sân, sau đó sút vào trọng tài biên.

Một trong những ngộ nhận mà tôi thấy rất nhiều ở các bạn trẻ lẫn không còn trẻ nữa.
Đó là câu: “Ý tưởng này của tao!”
Này bạn, ý tưởng chỉ là một phát rắm.
Trừ khi bạn khoác cho nó cái áo dài trắng của chính bạn.

Ký sự dài kỳ: Ngành sáng tạo Việt Nam #2: Art Director – Ếch đi dép to trong một vũng nước quá nhỏ

Image

Lưu ý trước khi đọc:

1) Bài viết thể hiện quan điểm riêng của người viết. Vui lòng ném đá thoải mái.

2) Người viết là người cực kỳ ghét ngành quảng cáo nên sẽ có những thiên kiến vô cùng chân thực về ngành quảng cáo. Nếu bạn yêu quảng cáo, vui lòng cân nhắc trước khi đọc tiếp.

Art Director – Ây Đi (AD) – Giám đốc mỹ thuật – Ếch đi dép to – Ếch kêu rất to.

Tay cắp con Macbook Pro, mắt đeo kính gọng dày sành điệu, nếu là nam thì anh sẽ mặc áo sơ mi hoa lá cành cài cúc từ cổ đến bẹn, quần nhiều màu sặc sỡ, nếu là nữ thì chị sẽ như một người mẫu nơi công sở làm cho anh em FA (Final Artist – Forever Alone) phải trố mắt há mồm thòm thèm. Đây là chân dung điển hình của một Art Director trong môi trường sáng tạo. 

Dĩ nhiên khuôn mẫu nào cũng có nhiều ngoại lệ, dĩ nhiên vẫn có những AD nam trông như người mẫu nữ nơi công sở và những AD nữ mặc áo cài cúc từ cổ đến bẹn. Tuy nhiên, quần áo chỉ là một phần (dù khá quan trọng) khi phiến bàn vấn đề về các AD thân yêu của chúng ta. Cái tôi muốn cố gắng khắc hoạ ở đây, trong phạm vi bài viết này, đó là: AD là ai, làm việc gì, làm ở đâu, và làm thế nào để trở thành AD. 

AD là ai?

Art Director là một chức danh để chỉ chung những người chịu trách nhiệm về định hướng mỹ thuật cho khách hàng của công ty hay của công ty, nhưng tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh mà công việc và độ hoành tráng của AD (kèm theo thu nhập) sẽ khác nhau. Chẳng hạn như AD cho một tạp chí thời trang danh tiếng thì khá là oách, nhưng AD cho một công ty quảng cáo thì tương đối lìu tìu. Chẳng hạn thế.

AD làm gì, làm ở đâu?

Nhìn chung có 2 trường phái AD. Trường phái 1: Vì tao là AD nên cái gì tao cũng làm được. Trường phái 2: Vì tao là AD nên tao không làm mấy cái chuyện tầm thường đó. Tao chỉ ngồi chỉ mày làm thôi. Nè, vầy nè, vầy nè… Đó, dễ ẹc, làm đi.

Khỏi phải nói. Tôi thích những AD làm việc theo trường phái 1. Với điều kiện là họ giỏi. Mà những AD kiểu này thường là giỏi. Họ giỏi vì họ làm nhiều. Càng làm nhiều thì càng giỏi, càng giỏi càng muốn làm nhiều, cho nên lại càng giỏi. Trong khi họ càng ngày càng giỏi thì những AD theo trường phái 2 còn đang bận đi họp, đang ngồi “phác thảo định hướng mỹ thuật”, tìm “rép-phờ-rần” (reference – tư liệu tham khảo, hay nói con mẹ nó ra là thấy cái nào đèm đẹp và hờm hợp thì chôm về kêu mấy thằng Khỉ ăn táo – Mac Monkeys làm), hoặc đang hút thuốc.

Cho nên nếu bạn hỏi tôi, làm AD tức là làm gì? Tôi sẽ trả lời: làm tất! Miễn là đẹp!

Như đã nói, tuỳ theo lĩnh vực mà công việc của AD sẽ khác nhau. Làm AD cho tạp chí thì sẽ tìm ra định hướng về mặt Mỹ thuật cho tạp chí ấy, dùng font chữ gì, tông màu chủ đạo thế nào, măng-xét ra làm sao… Khi đi chụp ảnh thì chọn nhiếp ảnh gia nào, muốn ánh sáng, màu sắc, cảm xúc của bộ ảnh nó như thế nào, chọn người mẫu nào… Khi đi dự ì ven thì mặc quần áo gì cho nó thể hiện mình là người có gu v.v… Nói chung rất lấp lánh ánh đèn màu làm cho bao con thiêu thân đâm đầu mà ngờ đâu đời không trơn tru như đít con gà mái dầu. Trên vạn người mà chỉ dưới một số ít người (tổng biên tập, chủ đầu tư v.v…) Lại còn được các bạn nhiếp ảnh gia mới nổi, các stylist mới ra trường ríu rít săn đón ngưỡng mộ. Nói chung là hoành.

AD trong một agency quảng cáo thì tương đối không hoành. Nếu nói một dự án truyền thông cho một nhãn hàng nào đó cũng giống như một câu chuyện, thì người làm AD sẽ cùng làm việc với Copywriter (CW – Cọp pỉ hai tờ – Chuyên viên viết lời quảng cáo) để nghĩ ra xem nên nói cái gì, thông qua một quá trình rất là hoạt huyết dưỡng não gọi là Brainstorm (a.k.a Rang tôm, bão não… tuỳ địa phương agency). Sau đó là đến công đoạn Ếch-xê-cu-sần (Execution), tức là bây giờ biết nói cái gì rồi, giờ nghĩ xem phải nói thế nào cho hay, cho hấp dẫn, cho bán được hàng. Trong khi CW chỉ ngồi nặn óc nghĩ mấy câu headline giật tít câu view vớ vỉn, thì AD sẽ phải rị mọ chọn từng font chữ, cắt từng tấm hình, thử hàng chục kiểu bố cục khác nhau để cho ra vài óp-sần cho khách hàng chọn. (Mình đang nói AD týp 1, AD týp 2 thì sẽ nguệch ngoạc mấy cái phác thảo chì vớ vẩn xong vứt cho designer làm. Mỗi lần gặp bọn týp 2 này thì anh em designer chỉ có nước lầm bầm đù má thằng AD, mai mốt ông mày làm AD thì mày biết tay ông!). Xen giữa quá trình này là vô số buổi họp có tác dụng gây mê cực cao. Hiện tại tôi chưa có nghiên cứu khoa học chính thức nào để chứng minh cho việc này, nhưng có thể đây là lý do của việc dân sáng tạo buộc phải uống cà phê cho đỡ u mê.

Nếu may mắn được khách hàng mua một óp-sần nào đó (thường là óp-sần của khách hàng), AD sẽ cùng với CW tiếp tục đi họp. Họp coi talent (tức là tài năng – tức là diễn viên đóng quảng cáo – thường không có tài năng gì chỉ được cái vếu to) của cái quảng cáo này là em nào, quần xì líp của em ấy màu gì, bãi cỏ em ngồi nó có sắc độ xanh như thế nào. Họp với bên sản xuất. Nếu là quảng cáo báo, 2 chiều, thì họp với thằng chụp hình. Nếu là quay phim thì họp với thằng đạo diễn. Nếu là digital thì họp với mấy thằng dev. Họp đã đời chán chê thì đi sản xuất. Sản xuất về lại tiếp tục đi họp. Cứ thế… Một vòng tròn lẩn quẩn làm con người ta trở thành những thằng ngớ ngẩn.
Image
Tôi hy vọng, những người ôm mộng làm AD sẽ không vì những sự thật đau lòng này mà vỡ mộng. Nếu bạn vỡ mộng và quyết định từ bỏ, thì chúc mừng bạn, bạn đã có một lựa chọn vô cùng sáng suốt. 

Nhưng mà oái oăm thay nếu bạn vẫn hừng hực khí thế, quyết chí làm AD, thì xin đọc tiếp.

Làm sao để thành AD?

Tuỳ nơi làm việc mà người ta đòi hỏi ở AD những yêu cầu khác nhau, bao gồm nhưng không nhất thiết phải là toàn bộ, các điều kiện sau: thành thạo Photoshop, Illustrator, InDesign, Flash, CSS, HTML5, C4D, After Effect, Premier Pro. Có khả năng vẽ tay và máy. Có khả năng chém gió. Có kiến thức về các trường phái mỹ thuật và luôn cập nhật các trường phái mới mẻ, cun (kool). Có khả năng ngồi họp hàng nhiều giờ liền nói về những vấn đề vĩ mô như màu quần xịp của talent hay độ xoắn của sợi mì A so với sợi mì B. Không ngại gian khổ, tuần làm việc 60 – 80 tiếng. Trong thời gian đầu làm junior lương từ 200-400 $, lê lết mấy năm sau lên middle weight lương từ 600-1200$, đến lúc răng rụng chân chậm tóc bạc lương có thể lên đến vài ngàn đô, đủ tiền để chữa ung thư phổi do hút thuốc quá nhiều và ung thư gan do nhậu nhẹt quá sức.

Riêng với ngành quảng cáo, bứt cứ tên hề nào cũng có thể làm AD. Chẳng hạn như tôi đây. Cứ xin đại, cắn răng làm intern vài tháng, nói lời tạm biệt xã hội, ăn mì gói uống nước lã, tự học Photoshop và AI trên mạng. Tada! Vì em đã thể hiện tốt, chăm chỉ, nên công ty sẽ giữ em lại làm junior art director – tạm dịch – Giám đốc Mỹ thuật Thiếu nhi. Hãy chính thức nói lời vĩnh biệt với cuộc sống xã hội, để lao đầu vào làm quần quật như máy bơm Nhật, để sau vài năm, nhìn lại, và viết ra những điều vớ vẩn, giống như cái bài viết này.

Kỳ sau: Cọp Pỉ Hai Tờ – Sống nhờ anh Gú.

Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện gì?

Càng ngày tôi càng cảm thấy rất khó để viết. Cảm thấy những thứ mình (định) viết ra không đủ để chính bản thân mình hiểu, chứ đừng nói làm người khác hiểu. Ngôn bất toại ý. Có thể nói như thế. 

Nhân dịp bạn nhờ tôi dịch một bài phỏng vấn một tay đầu bếp nước ngoài, nhìn tiếng Anh gõ tiếng Việt, tôi lại có cơ hội ngồi lọc cọc gõ từng con chữ, lấp đầy từng trang giấy, và có cơ hội để nhớ lại cái thời lọc cọc trên cái máy IBM T42 bàn phím lồi lõm, dịch sách để kiếm từng đồng đi uống cà phê ông Bình khùng ở Audiophile. Bẵng đi mà đã gần 10 năm, hôm qua lại ngồi uống rượu với Bình khùng ở quán cà phê đến khuya. Tự dưng thấy đời vui vẻ lạ. Mãn đời này, nếu còn sống ở Sài Gòn, chắc tôi vẫn sẽ ngồi ở Audiophile chứ chẳng ở đâu khác.

Dạo vừa rồi đi xem phim ở rạp, thấy chiếu trailer phim Kẻ trộm sách, lại nhớ cái hồi ngày nào cũng đều như vắt chanh 3 trang A4, cho đến hết quyển sách hơn 1000 trang. Tiền công dịch cuốn sách ấy để tiêu gì, đến giờ tôi cũng quên tịt mất. Nhưng tóm lại, những con chữ đã nuôi sống tôi một thời gian quá dài. Chữ nghĩa có một sức mạnh lạ kỳ mà tôi nghĩ những ai sống bằng nghề viết lách, như bạn tôi bây giờ, mới có thể hiểu được phần nào. 

Tôi yêu bạn mình cũng vì thế. Một cô gái viết tốt, chịu đọc sách là một cô gái tuyệt vời nhất mà bạn có thể tìm thấy trong đời. Ngay cả một cơn ác mộng với cô gái ấy cũng khá là dễ chịu. Thay vì xỉa xói: “”Đồ lăng loàn, mất nết, lần này thì biết tay bà…”, bạn sẽ được nghe câu “Đừng hỏi vì sao nước biển lại mặn nhé…”

Buồn là bây giờ thì mọi thứ đã khác. Người ta đã đẻ ra khái niệm anh hùng bàn phím, hot blogger, kiếm tiền hơi kinh… Một đoạn status ngắn trên Facebook cũng có thể khơi nguồn cho một cuộc tranh luận nảy lửa. Nhưng chữ nghĩa bây giờ vẫn thế, chỉ có nội dung của chúng là đã khác nhiều.

Hôm qua, tôi gặp khách hàng có nhu cầu tìm người quản lý trang Facebook của thương hiệu nọ. Họ đặt ra quota một ngày 3 post, 1 tháng thay cover 3 lần. Hôm nọ nữa, tôi thấy một cái web banner đưa hình ảnh xấu xí mếu máo của cô diễn viên tôi thích, kèm theo dòng chữ “Kêu gọi hành động – Cổ tù ắc sần – Call to action” to vật vã: Bây giờ mà vẫn chưa cài Cờ rôm cộng à??? Tự nhiên tôi thấy con chữ, hay nói rộng ra, là nội dung, bây giờ thật rẻ rúng. Chỉ cần vài nhát gõ phím là bạn có một cái gì đấy mà ngay lập tức có thể chạm đến hàng ngàn người. Đó là sự thiên tài, và cũng là sự khốn nạn của công nghệ.

Bản thân tôi gần đây cũng gặp khó khăn trong việc tạo ra nội dung cho cái Facebook Page của Nhộng, nơi mà anh em chúng tôi làm ra để làm ra được nhiều content hay ho hơn nữa. Mỗi lần định viết một cái gì đó, tôi đều xem lại và thường là quyết định không ấn vào nút “Post”. Tôi mù công nghệ, nhưng tôi trân trọng cái mà người ta vẫn hay gọi là Internet. Tôi hy vọng những thứ mà mình đưa lên đó ít ra phải có ích cho người ta, dù ít hay nhiều. Một bức tranh đẹp, một câu cách ngôn hay, một đợt giảm giá sản phẩm tốt… Lúc nào cũng vậy. Nhưng việc tạo ra được một cái gì đó như thế, có trời đất chứng giám, là không hề dễ dàng. Tôi cực kỳ ghét những câu lảm nhảm kiểu : Hôm nay trời mưa Ad thấy mệt trong người, còn các mem thì sao? Nhưng kiểu nói chuyện vô thưởng vô phạt này có vẻ như đang hot, đang là cách để các brand “trò chuyện” với user của mình chăng, mà sao đi đâu cũng thấy?

Tôi vừa thua một cuộc đấu thầu thiết kế, mà lý do là những cái chúng tôi làm ra không “sáng tạo”, không “Quào (Wow?)”, không phù hợp với hình ảnh trưởng thành và chững chạc của một công ty chủ yếu bán hàng cho gái teen (?). Tôi buồn vì thua thầu thì ít, mà phẫn nộ vì sự ấu trĩ và nhảm nhí mà anh chị em chúng tôi phải hứng chịu thì nhiều. Anh em bạn bè an ủi tôi, thôi, khách hàng mà, chuyện công ty của họ, mình lo làm gì cho mệt? Mình chỉ là thằng đi tạo ra nội dung theo yêu cầu của họ thôi mà… Anh em bạn bè của tôi ơi, đến bao giờ tôi mới làm cho mọi người hiểu được rằng: làm tiền thật khó, mà làm đúng thì còn khó hơn quá nhiều?

Nó cũng giống như chuyện viết thế nào hay viết nhiều ra sao không quan trọng bằng viết cái gì, vậy đó.

Gravity: Nơi hy vọng bùng lên rồi trôi lơ lửng

(Bài này thể hiện quan điểm cá nhân của người viết và có tiết lộ nội dung phim. Vui lòng cân nhắc kỹ trước khi đọc).
 
Image

Gravity (đạo diễn Alfonso Cuaron) là một bộ phim làm nhiều người mong đợi, trong đó có tôi. Trước hết vì Cuaron nổi tiếng, cả trong vai trò đạo diễn và nhà sản xuất. (Ông là đạo diễn phim Paris Je t’aime – một phim hay về những cung bậc tréo ngoe của tình yêu, là nhà sản xuất của bộ phim đầy ma mị Pan’s Labyrinth với concept art vô cùng quái dị và hiệu quả). Với bề dày thành tích đáng nể như vậy, việc ông bỏ ra nhiều tâm huyết để làm phim Gravity và được người ta mong đợi là điều dễ hiểu.

Image 
 
Và bộ phim đã nhận được sự đón nhận nhiệt liệt. Phim được đánh giá 8.7/10 trên IMDB, 9.1/10 trên Rotten Tomatoes, doanh thu phòng vé cao ngất ngưởng. Mọi người tung hô bộ phim từ Trailer trở đi, dành nhiều mỹ từ để ca ngợi nó. Với cá nhân tôi, Gravity cực kỳ giống một phim bom tấn khác là Life of Pi.
 
Image
 
Cả hai phim đều do những đạo diễn tên tuổi làm. Cả hai phim đều có motif nhân vật hero phải vượt qua một quãng đường dài gian khổ để đến được miền đất lành. Cả hai phim đều có kỹ xảo hình – thanh xuất sắc và được khán giả và giới phê bình đánh giá cao. Và theo tôi, cả hai phim đều là những món ăn được bày trí vô cùng đẹp mắt nhưng nêm thiếu muối. 
 
Cũng giống như Life of Pi, đây là một phim không thể chê vào đâu được về mặt nghe nhìn. Không gian vũ trụ lúc thăm thẳm ghê rợn, khi thì huy hoàng chói loá, sẽ làm bạn thoả mãn. Dẫu có nhiều ý kiến của các nhà vật lý lẫn cựu phi hành gia cho rằng phim này ba xạo về mặt khoa học với đủ các dẫn chứng hoành tráng, nhưng người xem sẽ không vì thế mà không tin sái cổ rằng phim được quay trong vũ trụ thật, với những cơn bão mảnh vỡ vệ tinh thật, và những chiếc phi thuyền thật. Phần âm thanh và nhạc phim cũng được làm rất bài bản. Khi xem trong rạp được trang bị hệ thống Dolby Atmos, bạn sẽ có cảm giác mình cũng đang ngọ nguậy trong một bộ đồ phi hành gia, lơ lửng trong vũ trụ bao la kia. Những đoạn hay nhất về âm thanh là những đoạn hoàn toàn…câm bặt, nó thể hiện rất tốt cảm giác trơ trọi trong không gian, tiếng nhạc phát ra từ Matt (George Clooney đóng) – người bạn đồng hành chết yểu của Ryan (Sandra Bullock) – khiến cho người ta cảm thấy ấm áp hơi người hơn trong một số cảnh phim.
 
Image
 
Cả hai diễn viên nữ và nam chính của phim này đều từng thành công trong các vai hài. Sandra Bullock rất duyên và hấp dẫn trong The Proposal, hay mới đây là The Heat, nhưng tôi có cảm giác Bullock đóng vai này không hợp. Nhìn cô ta, người xem biết chắc rằng nhân vật chính sẽ không thể chết được, vì bà này còn máu lửa lắm. Tôi tự hỏi sẽ thế nào nếu như Hillary Swank hay thậm chí là Angelina Jolie đóng vai Ryan. Có lẽ sẽ là một Ryan chấp chới và chênh vênh hơn cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, và sẽ ép-phê hơn khi cô ta quay về từ cõi chết chăng?
 
Tôi thích vai của George Clooney. Ông này càng già càng đóng hay. Tuy tôi thích Clooney đóng vai bi như trong The American hay Up in the air hơn, nhưng ổng đóng vai hài hài tửng tửng tràn trề nhựa sống cũng rất xuất sắc. Tôi rất thích chi tiết ổng cứ chăm chăm đếm giờ coi mình đã phá kỷ lục “đi bộ trong không gian” của thằng cha Liên Xô nào đó chưa, dù chết tới nơi rồi. Chi tiết này thể hiện tinh tế tính cách nhân vật Matt do Clooney đóng.
 
Image
 
Nhưng tiếc thay, cũng như Life of Pi, nội dung của bộ phim quá hời hợt. Những chuyển biến trong tâm lý nhân vật, yếu tố quan trọng nhất để làm nên một bộ phim hay với motif cũ kỹ kiểu thế này, là quá đơn giản và đôi lúc ngô nghê. Ryan lúc sắp sửa quyên sinh thì mơ thấy Matt hiện hồn về mách nước để thoát ra khỏi hoàn cảnh hiểm nghèo, sau đó quay trở lại bừng bừng khát vọng sống. Những trạng thái tâm lý khác nhau, nếu được khai thác một cách tinh tế hơn, chắc chắn sẽ mang lại một bộ phim rất khác. Nếu nhớ lại A space odyssey, I am legend hay gần đây là Prometheus – tâm lý tuyệt vọng, cô đơn của nhân vật được miêu tả rất tinh tế, nhẹ nhàng nhưng cũng đầy sức mạnh. Cái thiếu nhất của Gravity chính là những chi tiết nhỏ kiểu như khi Robert Neville (Will Smith đóng) tự tay bóp chết con chó – người bạn duy nhất của anh trong một thành phố không người trong phim I am legend.
 
Mỗi người xem phim và đánh giá phim hay dở theo một tiêu chuẩn khác nhau. Với tôi, một phim hay là phim khiến bạn phải suy nghĩ. Suốt thời gian xem phim và sau khi xem xong, không một lần tôi phải bóp trán vì một câu thoại hay, một tình tiết nhiều ẩn dụ, chứ đừng nói đến việc hứng khởi vì thông điệp mà bộ phim mang lại. Để giải trí nhẹ nhàng, tôi thích phim hài nhảm kiểu 7 Psychopaths, để trầm trồ vì công nghệ và kỹ xảo, tôi thích Pacific Rim hơn vì gợi nhớ 5 anh em siêu nhân hồi xưa. Gravity có lẽ sẽ hợp với những ai ít được xem phim hay về nỗi cô đơn.
 
Image
 
JK
Sài Gòn – 18 tháng Mười 2013.
 
 
 

Đường đua

Mấy ngày nay đã có quá nhiều bài báo và bài review về bộ phim này. Với cá nhân tôi, một người mê phim vô cùng và mỗi ngày đều cố gắng xem một phim dù bận đến mấy, tôi cảm thấy mình cần phải viết một cái gì đó.

 

Tôi tham gia thiết kế và sản xuất chiếc áo mà êkíp làm phim Đường đua tặng cho khách mời trong đêm công chiếu, cũng có thể tính là có đóng góp một phần cực nhỏ vào bộ phim. Do đó, khi đi xem phim, tôi luôn tự dặn mình là đừng vì nhận được một khoản tiền làm áo từ họ mà bị điều này làm ảnh hưởng đến đánh giá của mình về bộ phim, và vào rạp với một thái độ hết sức phòng thủ và nghi ngờ.

 

Vì sao, vì cái gọi là nền điện ảnh nước nhà đã quá nhiều lần làm tôi chán ngán đến mức lợm giọng. Thậm chí sau khi xem xong phim Chuyện tình Sài Gòn, tôi đã thề độc sẽ không bao giờ xem phim Việt Nam nữa. Lời thề ấy kéo dài 2 năm trời và kéo theo nhiều sự hằn học, cực đoan của tôi với phim Việt.

 

Sự hằn học và cực đoan ấy vẫn còn, và có phần mạnh mẽ hơn sau khi xem “bản nháp” của một bộ phim vừa bị cấm chiếu vì “không phản ánh đúng thực trạng xã hội”. Khi vị đạo diễn của phim ấy bắt đầu dùng những “review” đầy mũi mẫn của đám khán giả hời hợt để bao biện cho một phim dở không để đâu cho hết, tôi càng thấy phản cảm hơn.

 

Nói dông dài như thế này là để các bạn thấy tôi có mối ác cảm sâu cay với phim Việt. Tôi xem Đường đua với mối ác cảm vẹn nguyên ấy trong đầu. Tuy nhiên bộ phim này đã cho tôi một chút hy vọng dù là rất nhỏ bé với nền điện ảnh của nước nhà.

 

Với tôi, bộ phim còn nhiều điểm yếu, mà yếu nhất là khâu kịch bản. Tôi cảm thấy hụt hẫng khi xem xong phim mà có cảm giác như tất cả chỉ là một món tráng miệng cho một sequel hứa hẹn hoành tráng và hấp dẫn hơn nhiều. Diễn xuất đôi chỗ còn quá nặng chất “kịch” cũng là một điểm trừ khác.

 

Tuy nhiên bộ phim này đã làm được điều mà trước đây chưa có phim Việt nào khác ngoài Xích lô (nếu có thể gọi Xích lô là phim Việt) làm được, đó là khiến tôi thực sự quan tâm đến số phận và câu chuyện của các nhân vật trong phim. Mr. PAK thể hiện tròn vai diễn của mình và tôi tin là anh ta đã cố gắng 200% khả năng để đóng vai Lộc trong phim.

Image

Tôi có cảm tình với Lộc của PAK vì đây là một nhân vật mà tôi có thể liên hệ được. Cảm xúc của vai diễn được PAK thể hiện rất tốt và vừa phải. Tôi thấy anh này có lẽ nên làm diễn viên luôn thay vì đi hát.

 

Nhân vật Hải của Nhan Phúc Vinh có lẽ là vai phản diện ấn tượng nhất của điện ảnh Việt trong thời gian qua, tuy nhiên như vậy vẫn là chưa đủ. Xuyên suốt các đoạn phim của nhân vật Hải, tôi có cảm giác anh này đang cố gắng trở nên bệnh hoạn ngoài khả năng của mình. Nhân vật Hải của Vinh làm tôi nhớ đến Gary Oldman trong Leon the Professional, dĩ nhiên mọi sự so sánh đều khiên cưỡng, nhưng tôi ước Vinh có đủ độ tà ác để mỗi cái cười ha hả, mỗi nét trừng mắt đều làm người ta hơi lạnh gáy. Gary Oldman từng làm tôi nổi gai ốc với điệu vặn cổ răng rắc quái đản trong Leon mà không cần phải cố tỏ ra mình là một tên trùm xã hội đen. Có lẽ còn rất lâu nữa màn ảnh Việt mới có một vai ác ấn tượng như vậy.

Image

 

Nhân vật Lâm của Quý Bình không có quá nhiều điều để nói tới ngoại trừ việc anh này có ngoại hình rất điện ảnh. Hy vọng anh sẽ có dịp xuất hiện trở lại với một vai diễn khó hơn.

Image

 

Điểm sáng nhất về mặt diễn xuất của phim với tôi là nghệ sĩ kỳ cựu Trung Dân. Ngoại trừ đoạn báo hiệu cho cô con gái chạy đi quá lộ liễu và kịch thì sự tự nhiên và chất “đời”, diễn mà như không diễn của ông thực sự làm tôi thích thú. Giá như ông xuất hiện trên poster chính của phim thì tôi đã có một bức vẽ riêng dành cho ông.

 

Một bộ phim được thực hiện chỉn chu và có đầu tư bởi những người có sức trẻ, chuyên môn và nhiệt huyết như Đường đua là một dấu hiệu cực kỳ vui cho những ai quan tâm đến điện ảnh Việt Nam. Tuy không phải là một phim xuất sắc nhưng chắc chắn là rất đáng xem. 

 

🙂

1 tuổi

Image 

Vậy là chỉ còn vài ngày nữa, Nhộng sẽ chính thức tròn 1 năm tuổi.

 

Cách đây hơn một năm, ba thằng chúng tôi ngồi quây quần trong một quán cà phê cũ kỹ, nồng nặc khói thuốc, nói về Nhộng (lúc ấy chưa có tên Nhộng). Tôi vẫn nhớ ánh nến loang loáng trên cặp mắt kiếng của K., của B. Trong sổ tay của tôi vẫn còn chi chít những ghi chép đầu tiên về Nhộng, về tên thương hiệu, về những chi phí ban đầu, về thiết kế, về định nghĩa của Nhộng…

 

Một năm trôi qua, hai lần Nhộng lao đao tưởng… toi đến nơi. Nhiều lần tôi nhìn vào tài khoản ngân hàng và hoang mang tột độ, không biết lấy tiền đâu trả tiền thuê nhà, lương anh em, tiền tái sản xuất… Nhiều lần tôi quay lưng lại với những người thừa nhiệt huyết nhưng thiếu thực tế hay ngược lại. Thêm nhiều kẻ thù nhưng cũng vô số anh em bạn bè mới. Một năm qua là quãng thời gian tôi sống kham khổ, áp lực nhưng cũng hạnh phúc nhất của cuộc đời mình.

 

Sinh nhật Nhộng một tuổi, chúng tôi sắp ra mắt website mới. Chúng tôi đã xây xong một xưởng sản xuất của riêng mình. Chúng tôi đã tìm thấy và đang cùng chiến đấu với những người anh em chung chí hướng và cực kỳ giỏi chuyên môn. Chúng tôi mở rộng kênh phân phối online và offline, chúng tôi phát triển thêm nhiều dòng sản phẩm khác. Chúng tôi có một thư viện những mẫu thiết kế tuyệt vời từ những người bạn tuyệt vời đang chờ được áp dụng lên những sản phẩm tuyệt vời. Doanh số của chúng tôi tăng trưởng chậm vì những khó khăn tồn đọng trong quá khứ nhưng đều và chắc chắn. Và hơn hết, chúng tôi đã xây dựng được một cộng đồng những người trẻ tử tế, có tri thức, có óc hài hước và biết trân trọng giá trị của sự sáng tạo.

 

Tôi muốn cảm ơn tất cả những bạn bè của Nhộng, không có các bạn thì chắc chắn Nhộng đã chết từ lâu rồi. Tôi muốn cảm ơn gia đình tôi, bạn gái tôi, những người anh em thân thiết, và con chó của tôi. Họ đã hỗ trợ và thông cảm cho tôi, giúp đỡ và khuyên răn tôi, cùng ghé vai đỡ đần gánh nặng khủng khiếp với tôi, và hơn hết là tin tưởng vào tôi. Có sống hết cả đời này chắc tôi cũng không trả hết món nợ này cho họ.

 

Con đường phía trước còn đầy bom đạn, nhưng tôi cũng đã chuẩn bị cho mình và Nhộng đầy đủ súng ống, đạn dược.

 

Bởi vì sống là chiến đấu.

Ghê hết cả răng

Đây là một phần trong quyển “The man who mistook his wife for a hat” của Oliver Sacks mà tôi đã dịch từ cách đây rất lâu. Chắc là không xuất bản vì sợ ế. Đứa nào mang bản gốc ra đối chiếu thì lượn trước cho nhanh vì tôi không có kiến thức về thần kinh học, lọ mọ mãi mới dịch được theo những gì mà mình hiểu, cho nên cứ coi như đây là thảm họa về dịch thuật cũng được :))

__________________________________________________

19

Kẻ sát nhân

 

Donald giết người đàn bà của mình khi đang chịu ảnh hưởng của PCP (Phencyclidine). Hắn ta đã, hay có vẻ như đã, không nhớ tí gì về việc này – và cả phương pháp thôi miên lẫn sodium amytal cũng không thể giải phóng được bất kỳ ký ức nào. Vì vậy, người ta đã kết luận khi hắn ra hầu tòa rằng không có sự hiện diện của một ký ức, mà là một chứng quên có hệ thống – cái dạng thoáng mất trí nhớ được miêu tả rất rõ với PCP.

Những chi tiết, được kê khai trong bản kiểm tra tòa án, là rất rùng rợn khủng khiếp, và không thể được công bố trong phiên tòa mở. Chúng được thảo luận trong máy quay camera – giấu không cho công chúng lẫn bản thân Donald nhìn thấy. So sánh đã được thực hiện với những hành động bạo lực thỉnh thoảng được thực hiện trong những cơn động kinh thùy thái dương hay động kinh tâm thần động cơ. Không có ký ức nào về những hành động như thế cả, và có thể là không có cái ý định bạo lực – những người phạm phải chúng được xem là chịu trách nhiệm hay có tội, nhưng tuy nhiên cũng được đưa ra tòa xử vì sự an toàn của họ và của những người khác. Đây là điều đã xảy ra cho gã Donald bất hạnh.

Hắn dành bốn năm ở trong một bệnh biện tâm thần vì chứng điên dẫn đến phạm tội – mặc cho những nghi ngờ là hắn thì phạm tội hay bị điên. Hắn có vẻ như chấp nhận việc mình bị giam với một sự thanh thản nhất định – cái ý nghĩa của hình phạt có lẽ là được chào đón, và có một, không nghi ngờ gì là hắn đã cảm thấy như thế, một sự bảo đảm an ninh trong sự cô lập. ‘Tôi không phù hợp cho xã hội,’ hắn nói, một cách thê lương, khi được hỏi.

Sự đảm bảo khỏi sự mất kiểm soát nguy hiểm, bất thình lình – sự đảm bảo, và một dạng thanh thản nữa. Hắn đã luôn quan tâm đến cây cối, và cái sự quan tâm này, quá mang tính xây dựng đi, và quá xa với cái vùng nguy hiểm của mối quan hệ và hành động của con người, đã rất được khuyến khích trong cái nhà tù-bệnh viện mà giờ đây hắn sống. Hắn tiếp quản những miếng đất lổn nhổn, không ai chăm sóc của nó và tạo ra những vườn hoa, vườn rau, đủ mọi loại vườn. Có vẻ như hắn đã đạt được một dạng trạng thái cân bằng khổ hạnh, mà trong đó những mối quan hệ, những đam mê của con người, trước đây vô cùng cám dỗ, đã được thay thế bằng một sự bình lặng kỳ lạ. Có vài người xem hắn là bị mắc chứng loạn tinh thần, vài người thì cho là hắn không điên: mọi người đều cảm thấy rằng hắn đã đạt được một trạng thái chắc chắn nào đó. Trong năm thứ năm của hắn ở đây hắn bắt đầu được tha vì đã cam kết, được cho phép rời khỏi bệnh viện vào những dịp cuối tuần có giấy phép. Hắn đã là một người đi xe đạp đầy khao khát, và giờ đây hắn lại mua một chiếc xe đạp. Và chính điều này đã dẫn đến hành động thứ hai của cái lịch sử kỳ lạ của hắn.

Hắn đang đạp xe, nhanh, như hắn thích thế, dọc xuống một ngọn đồi dốc thì một chiếc xe hơi trờ tới, được lái rất tồi, đột nhiên lù lù xuất hiện ở một khúc cua cùi chỏ. Chuyển hướng để tránh một cú đâm, hắn mất tay lái, và lao người, đầu xuống trước, xuống mặt đường.

Hắn bị một chấn thương đầu tồi tệ – một khối tụ máu dưới màng cứng hai bên nghiêm trọng, cái lập tức trút ra và rút máu đọng ra bằng phương pháp phẫu thuật – và bị dập nặng cả hai bên thùy thái dương. Hắn nằm hôn mê, bán thân bất toại, trong suốt gần hai tuần, và rồi sau đó, một cách không hề mong đợi, hắn bắt đầu hồi phục. Và giờ đây, vào lúc này, những cơn ‘ác mộng’ bắt đầu.

Cái sự quay trở lại, sự bắt đầu lại, của ý thức thật là không ngọt ngào chút nào – nó bị vây quanh bởi một sự lo âu và rối loạn đáng ghê rợn, mà trong đó cái gã Donald nửa tỉnh nửa mơ có vẻ như đang phải vật lộn một cách vô cùng dữ dội, và cứ gào lên: ‘Ôi Chúa tôi!’ và ‘Không!’ Khi ý thức trở nên rõ ràng hơn, thì ký ức, một ký ức trọn vẹn, một ký ức giờ đây thật khủng khiếp, đã đồng hành với nó. Có những vấn đề thần kinh nghiêm trọng – sự yếu và tê cứng phần bên trái, những cơn động kinh, và những sự thiếu hụt nghiêm trọng ở thùy trán – và cùng với những điều này, với cái cuối cùng trong số này, một cái gì đó hoàn toàn mới xuất hiện. Vụ giết người, cái hành động đó, trước đây đã bị thất lạc trong ký ức, giờ đây đứng trước mặt hắn với một mức độ chi tiết vô cùng sống động, gần như là ảo giác. Sự hồi tưởng không thể kiểm soát được dâng trào lên và lấn át hắn hoàn toàn – hắn cứ ‘thấy’ vụ giết người suốt, diễn lại nó; hết lần này đến lần khác. Liệu đây có phải là một cơn ác mộng, một sự khùng điên, hay giờ đây ở đó đã có sự ‘siêu nhớ’ – một bước đột phát của những ký ức thực sự, trung thực, được nâng cao lên một cách đáng sợ?

Hắn được hỏi vô cùng chi tiết, với sự cẩn trọng nhất để tránh bất cứ lời gợi ý hay đề nghị nào – và rất nhanh sau đó nó trở nên rõ ràng là điều mà giờ đây hắn cho thấy là một sự ‘hồi tưởng’ thực sự, nếu không thể kiểm soát được. Giờ đây hắn đã biết được những chi tiết nhỏ nhặt nhất của vụ giết người: tất cả những chi tiết được bộc lộ ra bởi bộ phận kiểm soát của tòa án, nhưng chưa bao giờ được bộc lộ ra trong phiên tòa mở – hay với hắn.

Tất cả những thứ đã, hay có vẻ như đã, mất đi hay bị lãng quên khi trước – thậm chí khi đứng trước phép thôi miên hay tiêm amytal – giờ đây đã phục hồi và có thể phục hồi lại được. Hắn đã hai lần thử tự kết liễu cuộc sống của mình trong khu vực phẫu thuật thần kinh và phải được tiêm thuốc mê liều cực mạnh và giam cầm ép buộc.

Điều gì đã xảy ra với Donald – điều gì đã xảy ra với Donald lúc đó vậy? Rằng đây là một sự bùng nổ đột ngột của hình ảnh tưởng tượng tâm thần bị loại trừ bởi tính chất trung thực của sự hồi tưởng cho thấy – và thậm chí nếu nó hoàn toàn là tưởng tượng tâm thần, thì tại sao bây giờ nó lại xảy ra, một cách hết sức đột ngột, chưa từng thấy, với chấn thương đầu của hắn? Có một sự nạp lại về tâm thần, hay gần tâm thần, với ký ức – chúng, theo lối nói của bệnh tâm thần, bị ‘đầu tư cảm xúc’ một cách sâu sắc hay quá đáng – quá nhiều cho nên đã dẫn dắt Donald đến những suy nghĩ không dứt về việc tự tử. Nhưng cái gì sẽ là một nguồn nghị lực tinh thần bình thường cho một ký ức như thế – sự xuất hiện bất ngờ, từ một chứng mất trí nhớ hoàn toàn, không phải của một sự đấu tranh hay tội lỗi thuộc phức cảm Oedip, mà là một vụ giết người thực sự?

Liệu có thể nào với việc thùy trán không còn nguyên vẹn nữa thì một điều kiện quyết định chủ yếu cho sự kiềm chế cũng đã bị mất đi – và rằng cái mà giờ đây chúng ta thấy là một sự ‘giải phóng’ đột ngột, bùng nổ và cụ thể? Không ai trong số chúng tôi từng nghe nói hay đọc được bất cứ cái gì giống với điều này, mặc dù tất cả chúng tôi đều rất quen thuộc với sự giải ức chế nói chung được thấy trong những triệu chứng của thùy trán – sự  bốc đồng, tính khôi hài, tính ba hoa, tính tục tĩu dâm ô, sự bày tỏ của một xung động bản năng không bị kiềm chế, lãnh đạm, tầm thường.  Nhưng đây không phải là tính cách mà giờ đây Donald cho thấy. Hắn ta không bốc đồng, ẩu bừa, không đúng mực, tí nào. Tính cách, sự phán xét và tính chất nói chung của hắn là hoàn toàn được bảo tồn – chỉ đặc biệt riêng có những ký ức và cảm xúc về vụ giết người là giờ đây bùng nổ ra một cách không thể kiểm soát được, ám ảnh và tra tấn hắn.

Liệu có một sự kích thích cụ thể hay một yếu tố động kinh nào liên quan không? Ở đây những nghiên cứu EEG đặc biệt thú vị, bởi vì nó rõ ràng là, dùng những điện cực đặc biệt (mũi hầu), rằng bên cạnh những cơn động kinh lớn thỉnh thoảng xảy ra của hắn thì còn có một cơn động kinh không ngớt sôi sục, một cơn động kinh sâu sắc, ở cả hai bên thùy thái dương, đang lan rộng xuống (người ta có thể ngờ ngợ, nhưng nó sẽ cần có những điện cực được trồng vào để khẳng định) vào móc hồi hải mã, những cấu trúc rìa – vòng cảm xúc nằm sâu trong các thùy thái dương. Penfield và Perot ( Bộ não, 1963, trang 596-697) đã báo cáo hiện tượng ‘hồi tưởng’ hồi quy, hay ‘những ảo giác do kinh nghiệm’, nơi một số bệnh nhân bị động kinh thùy thái dương. Nhưng hầu hết những trải nghiệm hay hồi tưởng mà Penfield đã mô tả đều thuộc một dạng hơi bị động – nghe thấy nhạc, nhìn thấy những khung cảnh, có thể là hiện diện ở đó, nhưng hiện diện như một khán giả, chứ không phải như một diễn viên[1]. Không ai trong số chúng tôi đã từng nghe nói về một sự trải nghiệm lại như vậy nơi bệnh nhân, hay nói đúng hơn là diễn lại, một việc làm – nhưng rõ ràng đây là điều đang xảy ra với Donald khi ấy. Chưa từng có một quyết định rõ ràng nào được đưa ra.

Nó chỉ còn lại để kể nốt phần còn lại của câu chuyện. Tuổi trẻ, vận may, thời gian, sự chữa lành tự nhiên, chức năng trội hơn tiền chấn thương, được giúp đỡ bởi một phương pháp trị liệu theo lối của Luria cho sự ‘thay thế’ thùy trán đã cho phép Donald, qua năm tháng, thực hiện được một sự hồi phục vô cùng đáng kể. Những chức năng thùy trán của hắn giờ đây đã gần như bình thường. Việc sử dụng thuốc trị chống co giật, chỉ mới xuất hiện trong quãng vài năm trở lại đây, đã cho phép một sự kiểm soát hiệu quả cái thùy thái dương sôi sục của hắn – và lại ở đây, gần như chắc chắn, thì sự hồi phục tự nhiên cũng đóng một vai trò. Cuối cùng, với phương pháp trị liệu tâm lý nhạy cảm và đầy hỗ trợ, thì cái hành động bạo lực trừng phạt của cái siêu ngã tự buộc tội mình của Donald đã được giảm bớt, và những mức bản ngã nhẹ nhàng hơn giờ đây đã xuất hiện. Nhưng cái điều cuối cùng, điều quan trọng nhất, là đây: rằng giờ đây Donald đã quay lại với công việc làm vườn. ‘Tôi cảm thấy bình yên khi làm vườn,’ hắn ta nói với tôi. ‘Không có những xung đột trỗi dậy. Cây cối không có cái tôi. Chúng không thể làm tổn thương cảm xúc của anh.’ Cái phương pháp trị liệu cuối cùng, như Freud đã nói, là công việc và tình yêu.

Donald vẫn chưa quên, hay kềm nén lại được, bất cứ cái gì thuộc về vụ giết người – nếu quả thực ban đầu sự kềm nén là có tác dụng – nhưng hắn không còn bị ám ảnh bởi nó nữa: một sự cân bằng về sinh lý và đạo đức đã được thiết lập.

Nhưng còn cái tình trạng của sự mất mát đầu tiên, rồi hồi phục lại, ký ức thì sao? Tại sao lại là chứng quên – và cái sự quay trở lại đầy bùng nổ như vậy? Tại sao lại có một sự ngừng hoạt động hoàn toàn của đầu óc và rồi sau đó lại là những cảnh hồi tưởng khủng khiếp như vậy? Điều gì đã thực sự xảy ra trong cái vở bi kịch kỳ lạ, nửa mang tính thần kinh này? Tất cả những câu hỏi này vẫn còn là một bí ẩn cho đến tận ngày nay.


[1] Ấy vậy mà điều này không phải lúc nào cũng vậy. Trong một trường hợp đặc biệt đáng sợ, đáng buồn, được báo cáo lại bởi Penfield, thì người bệnh nhân, một bé gái mười hai tuổi, tự mình có vẻ như nhìn thấy, trong từng cơn động kinh, đang chạy trốn một cách điên cuồng khỏi một gã giết người đang đuổi theo cô bé với một một túi rắn quằn quại. Cái ‘ảo giác kinh nghiệm’ này là một sự chơi lại chính xác của một sự cố khủng khiếp có thực, đã xảy ra năm năm trước đó.